Công dụng chữa bệnh 'thần kỳ' của thạch cao

Công dụng chữa bệnh 'thần kỳ' của thạch cao

Thứ Ba, 03 Tháng 05 2016 09:16

Theo Đông y, Thạch cao có vị cay ngọt, tính đại hàn (rất lạnh); vào kinh Phế và Vị. Thạch cao sống (sinh thạch cao) có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, trừ phiền, chỉ khát. Dùng chữa các chứng thực nhiệt (sốt ngoại cảm), sốt cao phát cuồng, chân tay co giật...

Thạch cao là một loại khoáng vật, thường là những cục màu trắng hay hơi hồng, gồm rất nhiều tinh thể không màu, hay hơi vàng hoặc hơi hồng, thỉnh thoảng có những vết sắt. Thạch cao dùng làm thuốc trong Đông y, là một muối can­xi sunfat thiên nhiên có ngậm 2 phân tử nước (CaSO4.2H2O), trong đó có chừng 32,5% CaO, 46,6% SO3 và 20,9% H2O, thỉnh thoảng có lẫn ít đất sét, cát, chất hữu cơ, hợp chất sun­fua, đôi khi có lẫn ít sắt và ma­giê.

Thạch cao được sử dụng cả trong Đông y và Tây y, nhưng cách sử dụng rất khác nhau. Tây y chỉ dùng thạch cao dưới dạng khan nước (CaSO41/2H2O) để băng bó, đắp khuôn, bó bột,... Còn Đông y sử dụng cả thạch cao sống và thạch cao nung (khan nước), thạch cao sống dùng để uống trong, còn thạch cao nung dùng để dùng ngoài.

Thạch cao được sử dụng trong Đông y từ cách đây hơn 2000 năm. Tác dụng chữa bệnh của thạch cao được ghi chép sớm nhất trong "Thần Nông bản thảo kinh" ­ bộ sách thuốc đầu tiên của Đông y học.

Thạch cao

Thạch cao

Theo Đông y: Thạch cao có vị cay ngọt, tính đại hàn (rất lạnh); vào kinh Phế và Vị. Thạch cao sống (sinh thạch cao) có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, trừ phiền, chỉ khát. Dùng chữa các chứng thực nhiệt (sốt ngoại cảm), sốt cao phát cuồng, chân tay co giật, phiền khát, mồ hôi trộm, miệng lưỡi khô, họng háo, phế nhiệt sinh ho suyễn, vị nhiệt sinh nhức đầu, đau răng, ...

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, thạch cao sống có tác dụng hạ thân nhiệt mà không làm ra mồ hôi (có thể do tác dụng ức chế trung khu sản nhiệt và trung khu tiết xuất mồ hôi); Thạch cao sống còn có tác dụng tiêu viêm (có thể do tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của mạch máu), an thần và chống co giật (có thể do chất can­xi trong thạch cao ức chế thần kinh cơ bắp, đối với sốt cao co giật có tác dụng nhất định). Thạch cao nung (đoạn thạch cao) có tác dụng trừ thấp, sinh cơ (kích thích lên da), liễm sang (làm liền vết lở loét), chỉ huyết (cầm máu). Dùng chữa các chứng lở loét lâu ngày không liền miệng, ghẻ lở rỉ nước vàng, ngứa, bỏng lửa, ngoại thương xuất huyết.

Kiêng kỵ, chú ý: Thạch cao là vị thuốc rất lạnh (đại hàn) vì vậy, những người hư hàn, không có thực nhiệt không dùng được. "Hư hàn" tức "dương hư" (chân dương bất túc), thường có những biểu hiện như chịu lạnh kém, sắc mặt nhợt nhạt, đầu choáng mắt hoa, kém ăn, bụng lạnh, đại tiện lỏng hoặc ỉa chảy vào lúc sáng sớm, lưng gối đau mỏi, ... "Thực nhiệt" chỉ hiện tượng "nhiệt tà" (tác nhân gây bệnh) xâm nhập vào cơ thể, dẫn tới những chứng trạng như phát sốt, phiền khát, mê sảng, đau đầu, đău răng, miệng lở loét, đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng,..

Khi dùng thạch cao để chữa bệnh, cần đặc biệt chú ý tới cách chế biến, nếu không cẩn thận, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Cụ thể là:

1. Dùng để uống trong: Chỉ dùng thạch cao sống, nghĩa là đem thạch cao rửa sạch, đập nhỏ sắc uống hoặc nghiền mịn hòa với nước uống.

2. Thạch cao nung chỉ dùng ngoài: Sau khi nung, thạch cao sẽ mất bớt nước, thành thạch cao khan nước (CaSO41/2H2O). Thạch cao khan nước nếu uống vào sẽ hút nước nở ra, có thể gây tắc ruột mà chết.

Một số đơn thuốc tiêu biểu có sử dụng thạch cao:

Chữa sốt kéo dài sau nhiễm trùng: Trong thời kỳ hồi phục vẫn còn sốt, nhiệt độ không cao nhưng kéo dài, miệng khô, khát nước. Dùng: Sinh thạch cao 30g, trúc diệp (lá tre) 12g, mạch môn đông 20g, nhân sâm 6g, bán hạ 6g, cam thảo 4g, gạo tẻ 30g; sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa sốt cao trong các bệnh viêm nhiễm: Trong giai đoạn toàn phát, sốt cao, bứt rứt, khát nước, miệng khô, ra nhiều mồ hôi, rêu lưỡi vàng, ... có thể dùng bài thuốc gồm: Thạch cao sống 30g, tri mẫu 20g, cam thảo 10g, ngạnh mễ (gạo tẻ) 30g; sắc nước uống trong ngày.

Chữa sốt cao, bứt rứt, phát cuồng: Thạch cao sống 30g, hoàng liên 8g, sắc nước uống.

Chữa đau răng do vị nhiệt (dạ dày nóng): Răng đau kịch liệt, chỗ răng đau và vùng miệng lân cận sưng tấy đỏ, lợi mưng mủ rỉ nước, có khi khó há miệng, thân nhiệt tăng cao, kèm theo miệng khát, tiểu tiện sẻn đỏ hoặc đại tiện táo kết. Dùng bài thuốc gồm: Sinh thạch cao 30g, hoàng cầm 9g, hoàng liên 6g, sinh địa 10g, đan bì 8g; sắc nước uống trong ngày.

Chữa đổ máu cam, đầu nhức: Thạch cao sống, mẫu lệ, tất cả tán thành bột mịn, trộn đều; ngày uống 3 lần, mỗi lần 4g, hòa nước lạnh uống.

Theo: phununews.vn

Tags: thạch cao, công dụng của thạch cao, chữa đau răng, mồ hôi trộm,


Thuốc hay thầy giỏi