Vị thuốc trong chiếc bánh chưng

Hotline: 098788867

Vị thuốc trong chiếc bánh chưng

Thứ 7, 27 Tháng 01 2018 11:41

Bánh chưng là một thực phẩm cổ truyền, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất dinh dưỡng, không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán ở Việt Nam.

Bánh chưng là một thực phẩm cổ truyền của dân tộc Việt Nam, đậm đà bản sắc dân tộc và giàu chất dinh dưỡng, bánh chưng không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán ở nước ta. Về mặt y học, tất cả những thành phần tạo nên chiếc bánh chưng đều là vị thuốc dân gian, rất gần gũi với cuộc sống đời thường.

Các thành phần trong chiếc bánh chưng đều là những vị thuốc dân gian

Lá dong: 

Bánh chưng cũng là một vị thuốc quý chữa bệnh

Bánh chưng cũng là một vị thuốc quý chữa bệnh​

Vị ngọt nhạt, tính hơi hàn của lá dong có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, làm se, lương quyết. 

Chữa say rượu: lá dong tươi 100g, rửa sạch rồi giã nát, ép lấy nước uống. Dùng riêng hoặc là có thể kết hợp với lá non sắn dây. Bạn có thể dùng cuống lá dong cũng được.

Chữa ngộ độc: đọt lá dong 50g, rửa sạch rồi giã nát, thêm nước vào và gạn uống. Ngày làm 2 - 3 lần.

Chữa vết thương: lá dong 100g, rửa sạch, giã nhỏ rồi đắp lên vết thương băng lại. Nếu vết thương chảy máu sẽ cầm lại ngay.

Chữa rối loạn tiêu hóa, đi ngoài nhiều lần trong ngày: lá dong đốt tồn tính, mỗi lần uống 20g với nước sôi để nguội. Ngày uống 2 đến 3 lần.

Gạo nếp (ngạch mễ): 

Gạo nếp có vị ngọt, thơm, mềm dẻo và tính ấm, có tác dụng bổ tỳ vị. Để chữa nôn mửa không dứt, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng gạo nếp 20g sao vàng, gừng tươi 3 lát rồi sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày. Cũng với công dụng trên, kinh nghiệm dân gian lại dùng gạo nếp 12g phối hợp với mạch môn 12g,  bán hạ chế 6g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, nấu nước uống. Nước gạo rang được dùng chống tiêu chảy.

Cháo gạo nếp nấu suông gọi là cháo hoa có tác dụng “mát ruột”, dùng cho những trường hợp “nặng bụng”, nếu nấu nhừ với móng giò lợn là món ăn - vị thuốc cổ điển và phổ biến làm tăng tiết sữa.

Bánh chưng cũng là một vị thuốc quý chữa bệnh

Đỗ xanh (lục đậu)

Phần ăn được của hạt chứa protein 22-23,4%, carbohydrat 53 - 60%, lipid 1 - 2,4%, các acid amin, các vitamin A, B1, B2, PP, B6 và nguyên tố vi lượng. Dược liệu này có vị ngọt, hơi tanh, tính mát, đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt, giải độc,điều hòa ngũ tạng,  tiêu khát.

Người xưa đã biết phòng chống các bệnh viêm nhiệt về mùa hè bằng cách nấu nước uống với 3 loại đỗ xanh, đỗ đen và đỗ đỏ (lượng bằng nhau). Hạt đỗ xanh nấu với gạo nếp thành cháo, thêm đường hoặc là ăn hằng ngày chữa háo nhiệt, nôn ọe khi có thai, cồn cào, đái dắt. Đỗ xanh tán thật nhỏ, rồi trộn với giấm đắp chữa sưng tấy, đau nhức, phát nóng.

Để giải độc, thì bạn lấy đỗ xanh cả vỏ, 2 phần; cam thảo 1 phần, sắc lấy nước uống. Vỏ hạt đỗ xanh (lục đậu bì hay lục đậu xác), y học cổ truyền dùng vỏ hạt đỗ xanh phối hợp với sinh địa,  huyền minh phấn, huyền sâm, thạch cao, cam thảo, mỗi vị 10g, phơi khô, nghiền nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày chữa sốt cao, mê man, co giật.

Theo kinh nghiệm dân gian, thì vỏ hạt đỗ xanh phơi khô, nhồi vào túi vải để gối đầu tạo cảm giác mát dễ chịu, chống nhức đầu, nhất là về mùa nóng ẩm.

Giá đỗ xanh là một loại rau ăn rất đặc biệt dưới dạng màu rất giàu protid, glucid, các loại vitamin nhất là vitamin E rất cần thiết cho những người hiếm con và những phụ nữ bị sảy thai. Dạng dùng phổ biến là ăn giá sống. Khi bị ho có đờm, hoặc là bị khô cổ, khản tiếng, lấy giá sống trộn với ít nước, ép lấy nước ngậm làm nhiều lần trong ngày. Để chữa ngộ độc thức ăn và kim loại, say rượu,  bí tiểu, uống nước ép giá sống pha thêm đường.

Ngoài ra, thịt lợn và các gia vị làm thơm như hạt tiêu, thảo quả cũng là những vị thuốc dân gian quen thuộc.

Tags: bánh chưng, lá rong, đậu xanh, vị thuốc,


Thuốc hay thầy giỏi