Những bài thuốc quý chữa bệnh từ tất cả bộ phận của cây mận

Những bài thuốc quý chữa bệnh từ tất cả bộ phận của cây mận

Thứ Tư, 13 Tháng 06 2018 08:55

Mận là cây ăn quả được trồng phổ biến ở vùng miền núi phía Bắc nước ta và thường thu hoạch vào mùa hạ. Trong Đông y, các bộ phận của cây mận gồm quả, rễ, vỏ rễ, nhựa, lá, nhân hạt… đều có tác dụng chữa bệnh.

Mận là loại cây ăn quả được trồng nhiều ở vùng miền núi phía Bắc như Sơn La, Bắc Hà, Sapa… Cây thân gỗ, cành nhẵn và có màu nâu, đỏ, bóng. Lá có hình mũi mác, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông. Hoa có màu trắng thường tạo thành cụm 3 hoa. Quả tròn, nhẵn khi chín có màu sắc thay đổi thành tím hoặc màu vàng lục. Mận là loại quả mùa hè mọng nước, vào vụ từ tháng 5 – tháng 6, vừa ngọt vừa chua rất được ưa thích. Không chỉ chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khoẻ mà các bộ phận cây mận đều được dùng làm thuốc.

Quả mận

Quả mận được xem là vị thuốc chữa bệnh

Quả mận được xem là vị thuốc chữa bệnh​

Quả mận cho vị thuốc tên lý tử, thịt quả mận có chứa các acid amin: asparagin, glycine,  glutamine, serin, alanin, đường, vitamin C, acid hữu cơ… Theo Đông y thì quả mận có vị ngọt, chua, tính bình, quy vào hai kinh can, thận. Tác dụng thanh can,  giải tà độc, điều nhiệt, hoạt huyết, sinh tân, lợi thủy,  chỉ khát.

Trong sách cổ của Trung Quốc (Điền Nam bản thảo, Tuyển Châu bản thảo) có ghi chép: Lý tử trị các chứng hư lao, nóng trong xương (cốt chưng, triều nhiệt),  bụng tích nước, bệnh gan, thủy thũng, chữa tiểu đường (tiêu khát). Quả mận dùng ăn trực tiếp hoặc là có thể giã lấy nước uống. Người tỳ vị hư yếu (người mệt mỏi, ăn không ngon,  uể oải, đi ngoài phân nát…) không nên dùng.

Nhựa mận

Tên thuốc gọi là lý thụ giao thường dùng nhựa khô ở thân cây mận, chủ trị mắt có màng, tiêu sưng, tác dụng giảm đau, thúc sởi mọc. Liều dùng 8-16g sắc uống.

Hạt mận

Hạt mận cho vị thuốc tên lý tử nhân (hay lý hạch nhân), vị ngọt, đắng, tính bình, quy vào kinh can. Công năng hoạt huyết, tán ứ, nhuận tràng thông tiện. Dùng trong các trường hợp vấp, ngã mà bầm tím, sưng đau, vết côn trùng cắn, các chứng ho đàm, thủy khí ủng trệ, đại tiện bí táo.

Thường dùng dưới dạng thuốc sắc, ngày uống 8-12g. Đối với  những vết thương thì dùng ngoài, lấy nhân hạt đem nghiền thành bột rồi rắc hoặc là có thể đắp lên vết thương hoặc vết côn trùng cắn.

Trường hợp mặt bị sạm đen dùng bột nhân hạt mận nghiền mịn trộn cùng với lòng trắng trứng đắp ngày 1-2 lần, một liệu trình từ 5-7 ngày. Người tỳ vị yếu,  thận hư, di tinh, đi ngoài lỏng, phụ nữ có thai không nên dùng.

Vỏ rễ mận

Vỏ rễ mận cho vị thuốc gọi là lý căn bì (vỏ trắng rễ cây mận). Vị đắng, mặn, tính lạnh, quy kinh can. Tác dụng thanh nhiệt, giải trừ uất nhiệt do phong mộc, chữa tiểu đường, tâm phiền, các trường hợp khí hư, đau răng, lở loét…

Lá mận

lá mận có tác dụng giảm ho và điều trị các vết thương

Lá mận cho vị thuốc có tên lý thụ diệp có vị ngọt, chua, tính bình. Công dụng trị các chứng sốt cao, kinh giật ở trẻ, làm giảm ho, điều trị các vết thương. Có thể sắc uống liều dùng 8-12g lá khô. Dùng ngoài nấu lấy nước, bỏ bã tắm cho trẻ hoặc giã lấy nước cốt lá mận tươi thấm vào chỗ sưng đau.

Rễ mận

Rễ mận cho vị thuốc lý căn, thường thu hái vào tháng 9-10 hàng năm. Rễ mận có tính mát, hơi lạnh, vị đắng, sáp. Tác dụng thanh nhiệt giải độc dùng trong các chứng tiểu buốt, các trường hợp đi lỵ ra máu,  tiểu dắt do thấp nhiệt, bệnh tiểu đường. Trẻ em sốt nóng và có mụn nhọt.

Dùng trong sắc uống ngày 8-12g. Dùng ngoài sao tồn tính, nghiền thành bột, đắp hoặc rắc lên vết đau.

Trường hợp đau nhức răng: Dùng rễ mận 30 g đem sắc đặc với 100ml nước rồi ngậm khoảng 5 phút mỗi sáng sẽ giúp cải thiện tình trạng đau nhức răng hiệu quả.

Tags:


Thuốc hay thầy giỏi