Cây tề thái có tác dụng hạ sốt và cầm máu

Hotline: 098788867

Cây tề thái có tác dụng hạ sốt và cầm máu

Thứ 7, 11 Tháng 11 2017 09:20

Đông y và Tây đều dùng tề thái làm thuốc để cầm máu, chữa sốt và lợi tiểu, cây thuốc này được sử dụng trong những trường hợp ruột, tử cung xuất huyết, khái huyết, kinh nguyệt quá nhiều.

Mô tả cây tề thái

Cây tề thái còn có những gọi là tề, tề thái hoa, địa mễ thái.

Và có tên khoa học Capsella bursa pastoris (L.) Medic.

Thuộc họ Chữ thập Brassicaceae (Cruciferae).

Tề thái (Herba Capsellae) hoặc (Herba Bursae pastoris) là toàn cây tề thái phơi khô hay sấy khô.

Cây mọc hàng năm hay 2 năm. Thân gầy nhỏ, màu xanh lục nhạt và có lông mịn, phân nhánh hoặc là không phân nhánh. Cao từ 20 đến 40cm. Lá phía gốc mọc sát mặt đất thành hoa thị, và cuống ngắn hoặc không cuống, phiến lá xẻ thành nhiều răng cưa thô to, trên phiến lá có lông nhỏ. Lá phía trên không có cuống và ôm lấy thân cây, mép có răng cưa hoặc nguyên hay hơi cắt sâu. Hoa mọc thành chùm ngắn ở đầu cành hay kẻ lá. Hoa nhỏ màu trắng. Đầu xuân nở hoa 4 cánh 4 lá đài xếp thành hình chữa thập, nhị 4, bầu thượng 2 ngăn. Quả hình tim ngược dẹt giống cái túi người chăn cừu bên châu Âu, do đó có tên Bursa là túi, pasoris có nghĩa là người chăn cừu.

Cây tề thái

Phân bố thu hái và chế biến

Cây mọc hoang ở miền Bắc Việt Nam, và mọc nhiều nhất ở vùng Sapa (Lào Cai),Lạng Sơn, Cao Bằng, Ninh Bình, Hà Tây, Hà Nội, thường thấy trên các bãi hoang.

Tại những nước khác như Liên Xô cũ, Trung Quốc và Pháp và một số nước châu Âu đều có mọc thu hoạch vào mùa hạ (từ ngày lập hạ đến hạ chí theo nông lịch). Nhổ toàn cây lên, cắt bỏ rễ phơi khô.

Tại Liên Xô cũng công nhận tề thái là vị thuốc được dùng chính thức với những tiêu chuẩn sau đây: độ ẩm không quá 13%, tro không tan trong HCL không quá 2%,  tro toàn bộ không quá 10%, thân còn cả rễ không quá 2%, tạp chất hữu cơ lẫn vào không quá 2%.

Công dụng và liều dùng

Trong bản thảo cương mục ghi rằng: tề thái có khả năng lợi gan, rễ dùng chữa đau mắt, làm sáng mắt, hòa trung, lợi ngũ tạng, ích dạ dày, rễ và lá đồt thành than chữa xích bạch lỵ, hạt minh mục (làm sáng mắt), chữa lỵ lâu ngày, chữa đau mắt, thong manh, bổ ngũ tạng. Đông y và Tây đều dùng tề thái làm thuốc cầm máu, lợi tiểu, chữa sốt, dùng trong những trường hợp ruột, tử cung xuất huyết, kinh nguyệt quá nhiều, khái huyết.

Gần đây thì nhân dân Trung Quốc dùng chữa có kết quả bệnh đi tiểu đục.

Ngày dùng 6 -12g dưới dạng thuốc sắc. Có thể dùng cao lỏng mỗi lần 1 - 3ml, ngày sử dụng 3 lần, hoặc cồn 1/10 ngày dùng nhiều lần, mỗi lần 15ml.

Tags: cây tề thái, tác dụng của cây tề thái, cây tề thái chữa bệnh,


Thuốc hay thầy giỏi